Tuệ Quang xin chào các đạo hữu,

...nếu bạn khóc, tôi sẽ khóc cùng với bạn - nếu bạn không có những gì buồn thì chúng ta bắt đầu kể chuyện tếu - nếu bạn gặp bất hạnh, mà trước mặt bạn là ngỏ cụt của cuối đường, thì tại nơi đó bạn có đủ 1 mảnh đất để tọa thiền...hạnh phúc và chân lý không phải là điểm đến ở cuối đường hay mong cầu về một cõi, mà nó ở ngay trên từng bước của chúng ta đi...vì có khởi sự đi nên mới có đến, vì có sự quyết tâm mong cầu muốn đạt được nên những vọng tưởng của sự tham lam sẽ hiện lên, đó là những muộn phiền khổ đau trong cuộc hành trình đi tìm Phật tánh và chân lý . Nếu bạn không biết trước tôi, thì cho dù tôi có đứng trước mặt bạn, bạn cũng không thể nhận ra...Phật Tánh không phải là cái nỗ lực đi tìm vì nó không phải là một vật hiện hữu đã có sẵn từ trước mà ta đã một lần biết qua....Cái gì không đến cũng không đi ? hãy nhìn lên bầu trời để quán chiếu, nơi mà ta đã có mặt từ đó, vì có sanh nên có tử, vì cái đến chỉ là sự dừng lại tạm thời nên rồi cũng phải ra đi cho dù ta có thích hay không thích...hãy nhìn lên bầu trời, nếu ta tìm kiếm Phật Tánh, Niết Bàn hay Cực-Lạc thì ta sẽ thấy những đám mây phiền não kéo đến, ta sẽ không tìm thấy được những gì ngoài hình tướng của đám mây, ta không thể nào nắm giữ được nó dù là hình ảnh của 1 vị Phật hay 1 vị Bồ-Tát...mây thì có đến có đi, nhưng bầu trời thì không đến cũng không đi...đó là sự rỗng không thanh tịnh và sáng suốt. Có ai thấy được hình ảnh của chư vị Phật hay Bồ-Tát dưới 1 bầu trời không mây chưa ? bầu trời không đến cũng không đi, mà tọa thiền thì không đi nhưng tất cả vạn thể của vũ trụ đều sẽ đến. Mô Phật

Tuệ Quang



Showing posts with label kinh Kim cang lược giảng. Show all posts
Showing posts with label kinh Kim cang lược giảng. Show all posts

Friday, August 1, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2  VÀ    PHẦN KẾT THÚC    < x >

Nầy Tu-Bồ-Đề! Như có người đem bảy thứ báu đầy cả vô-lượng vô-số cõi nước để làm việc bố-thí. Như có trang thiện-nam, người thiện-nữ nào, phát tâm Bồ-đề, thọ-trì kinh nầy, nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v… tự mình thọ-trì, đọc-tụng, lại giảng cho kẻ khác nghe, thời phước-đức của người nầy hơn người trước.
Giảng nói cho người khác nghe như thế nào? : – ” Không chấp lấy nơi tướng, như-như chẳng động?”
Bởi vì sao?
Tất cả những pháp hữu-vi
Khác nào mộng, huyễn, khác gì điện, sương.
Như bóng nước, như ảnh-tượng.
Xét suy như thế cho thường chớ quên!
Đức Phật nói kinh nầy xong, ông Trưởng-Lão Tu-Bồ-Đề cùng với các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-Ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di, tất cả Trời, Người, A-Tu-La v.v… trong thế-gian, nghe những lời của Đức Phật dạy, thảy đều rất vui mừng, tin nhận, vâng theo tu hành.
NAM MÔ BÁT-NHÃ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ-TÁT MA-HA-TÁT.

Đến đây là phẩm cuối của kinh, đức Nhưlai đã nhiều lần lập đi nói lại về việc bố thí tài, tức là tu Phước rồi đem so sánh với người đọc tụng thọ trì và giảng nói kinh nầy là ý chỉ cho Pháp thí tức tu Huệ thì phước báo sẽ được bền chắc, bởi vì người đọc tụng có trí tuệ thì sẽ thấy được tánh rồi hướng dẩn người khác cùng quay về để nhận ra bản thể chân-như đó gọi là thành Phật thì công đức không thể nghĩ bàn. Những ai đã nghe và hiểu kinh nầy đức Nhưlai khuyên nên giảng nói cho người khác nghe, vậy người nói thì nói như thế nào ? và người nghe thì phải nghe làm sao ?   Nguyên câu : ” Không chấp lấy nơi tướng, như-như chẳng động?” câu nầy được chia ra thành 2 vế để chỉ người nói và người nghe. " Không chấp lấy nơi tướng"  là người bố thí pháp, như ngay nơi từ đầu đức Phật đã phá Tướng : không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giã, người nói pháp chẳng nên chấp lấy mình là TA, là bậc thầy hay vị bồ-tát đã có chổ và thời gian nói pháp, bởi vì đã biết tất cả pháp đều vô-ngã rồi thì ai thuyết, ai nghe...mà đức Nhưlai là chỉ cho pháp thân tức vô hình tướng là chân lý của vũ trụ mà chân lý thì không có ngôn từ nào diển nói cho hết được nên người nói không thể hiện hữu. Cụm từ " như-như chẳng động " là chỉ cho người nghe,  2 chữ như-như là viết tắc của câu : "Như vậy là Như vậy"...tức là cái thấy và hiểu biết tất cả pháp qua tiến trình  "thập như thị" là cái cốt lõi chủ yếu của kinh Pháp-hoa là trạng thái chứng ngộ của thiền giã. "Chẳng động" không có nghĩa là đứng yên, mà khi vũ trụ xoay đều thì muôn vật biến đổi, do biến đổi nên các pháp được trở thành và có tên gọi dù là hữu-vi hay vô-vi.
” Không chấp lấy nơi tướng, như-như chẳng động?”, người nói phải không chấp lấy nơi tướng vì tướng là pháp sanh diệt nên còn kẹt ở hai bờ...và người nghe phải : như-như chẳng động. Nghĩa là người nghe cũng không có TA nghe mà chỉ có sự "lắng nghe", vậy thế nào là : sự lắng nghe ?
Khi tai và bản thể được kết nối thì sự lắng nghe mới xãy ra, toàn bộ ý thức trở thành việc nghe và không có bất kỳ một ý nghĩ nào chen vào. Khi có TA nghe, thì Ta chỉ nghe những phần Ta hiểu và không hiểu hết những lời của người nói, khi sự thiếu vắng của cái Ta nghe bị đứt đoạn thì sẽ thay vào bằng những vọng tưởng của tâm trí về cuộc sống, đó là lý do tại sao người nghe xong lập lại không đúng, cho nên cái Ta nghe trở thành một biển " cãi " mênh mong mà hơn 25 thế kỷ nay chưa hề kết thúc.
Trở lại "như-như bất động" là chỉ cho tánh nghe thanh tịnh và sáng suốt của mình, đó là cái nghe của bản thể vì tất cả pháp chúng như vậy là như vậy...đều là như : mộng, huyễn, tia điện, sương, bóng nước, ảnh tượng...
Người nghe thấu hiểu được kinh nầy rồi Thọ-Trì tức là hành pháp nhẫn-trí, được như thế thì người ấy sẽ thấy Nhưlai.
Xin hỏi: nếu như không có Người nói và Người nghe thì việc đọc tụng thọ trì kinh Kim-cang để làm chi và có lợi ích gì ?  Người đọc tụng thọ trì tức còn thấy tướng nhưng tướng nầy là tướng chân thật bằng lòng chấp nhận chân lý thiêng liêng, chỉ có người Thật mới đáp ứng được và y giáo phụng hành.

                                                                       
                                                                           LỜI PHỤ

Kim-cang nghĩa là bộ  " hàm thiết ngựa ", tức bộ dây cương dùng để hướng dẩn ngựa đi, Bát-nhã Bala-mật là người nắm vững dây cương để tự điều khiển con ngựa trong tâm-trí mình đi trong chánh pháp. Kinh Kim-cang là bộ kinh phá mê khai ngộ mạnh nhất, nó có thể làm nổ tung một tản đá vô minh bị chôn vùi hằng bao nhiêu thế kỷ qua để trở thành một con người với cái tên mới gọi là thành Phật. Tất cả các chư Phật đều do nơi kinh nầy mà ra, chân lý là vũ trụ thiêng liêng không ai có thể đánh bại được nó, người chống lại chỉ có thất bại mà không thành công, cho nên chân lý là cưu mang chư Phật, ngày được gọi là thành Phật là ngày giọt sương tan biến vào đại dương.
Chân lý không phải là tín ngưỡng, Phật gia không phải là tôn giáo. Trong chân lý không có sự mong cầu, nơi đó là hư không vô hình tướng nên không có những câu hỏi  "tại sao ?" được đặt ra vì không có người trả lời, nơi đó là thiêng liêng luôn trong sạch thanh tịnh và sáng suốt. Thiêng liêng không bị giới hạn trong khuôn khổ bởi Chùa chiền, Đền thờ hay Thánh điện nên việc cầu xin trở thành vô nghĩa.
Theo giáo lý nhà Phật, thượng-đế chính là vũ trụ là cái tổng thể bao gồm tất cả mọi thứ, chúng ta đang sống trong lòng của thượng đế lại nổ lực đi tìm, ngài chỉ hiện ra khi tất cả mọi thứ thuộc về vũ trụ đều phải buông bỏ, không người, không vật, không một lời thăm hỏi về sức khỏe được tạo ra, nơi đó hoàn toàn trống vắng và phẳng lặng như mặt nước đại dương nên không có sự ngăn cách bởi đôi bờ, chỉ có người nhẹ nhàng như thùng không đáy thì được cứu vớt, những ai còn tham đắm bởi lời cầu nguyện thì sẽ bị chìm.
Hằng tỷ tỷ người, thờ Phật, lạy Phật nhưng không mấy ai bằng lòng nghe và làm theo đúng lời Phật. Kinh Kim-cang là nói về tánh không của bản thể, tất cả mọi sự vật chúng đến như thế và ra đi như thế mà không cần phải sửa đổi thêm, chỉ việc lập đi nói lại câu : "tất cả đều chân thật" mọi lúc mọi nơi, mỗi giờ mỗi ngày để được ghi vào trong ký ức, khi giấc mơ đến trong ký ức không còn bất cứ điều gì để tạo ra mơ tưởng ngoài câu :
"tất cả đều chân thật"...người trong mơ hoàn toàn nói lời thật thì giấc mơ trở thành sự thật đáng tin.
Tuệquang viết những lời chia sẻ nầy gữi đến những ai đã sẵn sàng và bằng lòng sống trong sự thật, lời văn có thể gây chút ấn tượng cho người đọc, đó không phải là lời chỉ trích hay có tính cách phê phán đạo Phật mà là những ý tưởng thô sơ chưa thông suốt được toàn nghĩa của lời đức Nhưlai nói ra : " nếu Ta nói đủ hết cả ra, hoặc có kẻ nghe đó trong lòng liền cuồng loạn, nghi ngờ, không tin...phải biết rằng vì nghĩa lý của kinh nầy chẳng thể nghĩ bàn được nên qủa báo cũng không thể nghĩ bàn. ", nên đây chỉ là một phần lớp vỏ bên ngoài của thân bồ-đề, tuy nhiên với những ai đã quyết tâm bốc được lớp vỏ cây thì sớm muộn gì cũng nhận ra được cốt lõi ở bên trong. Những ý tưởng viết ra thành lời nầy không phải của riêng Tuệquang mà là sự lập lại lời giáo huấn của Thầy, của Mẹ và những thiện tri thức của Tuệquang.
Viết xong bộ kinh nầy, Tuệquang vẫn còn thấy một cái TA đang hiện hữu, ngước mặt nhìn Trăng rồi tự hào nói lớn tiếng : " Cám ơn Thượng-đế ! con là một Phật-tử."
Tuệquang xin chân thành cám ơn các sư, huynh, đệ, tỷ, muội đã khuyến khích và cùng chung sức để hoàn thành bộ kinh nầy.
Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu ni Phật.
Tuệquang kính bút

San Jose CA  ngày 1 tháng 8 năm 2014



Wednesday, July 30, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2     PHẦN NỘI DUNG    < v >


Nầy Tu-Bồ-Đề! Như có người nói: Đức Phật nói ngã-kiến, nhân kiến, chúng-sanh-kiến, thọ-giả-kiến. Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Người ấy hiểu nghĩa-lý của Phật nói chăng?”
“Bạch đức Thế-Tôn! Không. Người ấy không hiểu nghĩa-lý của đức Phật nói. Bởi vì sao? Đức Thế-tôn nói ngã-kiến, nhân-kiến, chúng-sanh-kiến, thọ-giả-kiến, chính chẳng phải ngã-kiến, nhân-kiến, chúng-sanh-kiến, thọ-giả-kiến, đó tạm gọi là ngã-kiến, nhân-kiến, chúng-sanh-kiến, thọ-giả-kiến”.
“Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi tất cả pháp, người phát tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác phải biết như thế, thấy như thế, tin hiểu như thế, chẳng sanh pháp-tướng.
Nầy Tu-Bồ-Đề! Pháp-tướng nói ra đó, đức Như-Lai nói chính là không phải pháp-tướng, đó tạm gọi là pháp-tướng.

Từ nơi đầu kinh, trước khi đi sâu vào phần nội dung đức Phật đã đưa ra 4 tướng : ngã, nhân, chúng sanh và thọ giã. Đó là 4 tướng theo giáo lý của ngoại đạo tức đạo tìm cầu bên ngoài, không có điều gì chắc chắn cho ngày mai nên việc cầu xin là chạy theo vọng tưởng sống với tương lai. Trước khi kết thúc phần nội dung của kinh nầy đức Phật vì biết khó có người lãnh hội được ý nghĩa chân thật mà đức Nhưlai đã truyền trao nên một lần nửa ngài đưa ra 4 loại Kiến dựa theo 4 tướng của một chúng sanh đó là : ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giã kiến. KIẾN có nghĩa là Thấy, thế thì việc thấy là thấy thế nào ? theo thế tục những cái " không thấy mà tin " đó là đức tin của người cầu vào tha lực bên ngoài, điều đó có thể CÓ có thể KHÔNG đối với tín ngưỡng của họ. Người có mắt mà tin vào những cái chưa từng Thấy, Biết thì những người đó đức Phật đã dùng phẩm dụ: " 5 người mù sờ Voi " để nói lên cái Thấy nầy. Đó là cái thấy không chơn thật, cái thấy được diển tả qua sự cảm xúc chớ không phải thấy bằng nhục-nhãn. Việc cần để Thấy phải hội đủ 4 điều kiện mới được gọi là thấy như là : mắt, hình sắc, ánh sáng và tâm thức, đó là cái thấy đúng sai còn phân biệt của thế gian, cho nên khi đức Nhưlai thuyết, ngài dùng danh từ TA để chỉ cho người nói thì chúng sanh liền thấy có Ta rồi chấp đó là ngã-mạn. Chữ KIẾN trong đạo Phật phải hiểu cho rõ nghĩa là  tánh Thấy tự nhiên có từ vô thỷ đến nay luôn luôn sáng suốt và không phân biệt, thấy biết tất cả mọi sự vật từ bên ngoài lẩn bên trong nội tâm của mình qua ngũ-nhãn. Thấy do có mắt mà thấy, do có ánh sáng mà thấy, do có tâm thức mà thấy, thấy hoàn toàn rổng không...bởi vì tất cả cái được thấy chúng là như vậy mà không cần hỏi: "tại sao ?"
Sở dĩ đức Nhưlai nói : ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giã kiến là để chỉ bày cái thấy mù mờ bởi vọng kiến của phàm phu, cái thấy không chơn thật nơi tự tánh của mình, do vì lẻ đó mà đức Nhưlai dạy : người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác khi nhìn tất cả các pháp dù là hữu-vi hay vô-vi cũng phải thấy biết thật đúng các tướng là Vô, tức tướng không thật có thì vọng tưởng không còn, khi vọng kiến biến mất tức là trở về với chân không, nơi đó không một vật gì hiện hữu nên gọi là Kiến-tánh...là cái thấy từ vô thỷ, người đó gọi là Phật, là Nhưlai hay vô thượng chánh đẳng chánh giác gì đó...cũng đều là giả danh.


Tuesday, July 29, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2     PHẦN NỘI DUNG    < u >

Tu-Bồ-Đề! Nếu ông nghĩ thế nầy: Đức Như-Lai, không phải vì có tướng cụ-túc mà được Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác!
Tu-Bồ-Đề! Ông cũng đừng nghĩ như vầy: Đức Như-Lai há chẳng do nơi tướng cụ-túc mà được Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác sao?
Tu-Bồ-Đề! Nếu ông nghĩ như vầy: Người phát tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác nói các pháp đều đoạn diệt. Ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì nơi các pháp, người phát tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác không nói tướng đoạn diệt.


Từ đầu đến giờ đức Phật phá tất cả chấp để trở về với tánh không của bản thể, thì tại đây vì biết ý của chúng sanh nên ngài đưa ra vài nghi tình : nếu đức Nhưlai nói như thế thì những chúng sanh phát nguyện tu thành Phật cuối cùng rồi chẳng được gì sao ? rồi nhân-qủa cũng không có, tức tướng đoạn diệt nghĩa là sau khi chết là... chấm hết, không còn lại một vấn đề gì nửa cả ?  có thật vậy không ?
Sau khi nghe qua đức Phật thuyết từ đầu chương đến bây giờ chúng ta có thể tự trả lời thay cho đức Phật được không ?  Đây là sự suy nghĩ của đức Phật vì biết khó có người nghe và tin nỗi kinh nầy dù chỉ 4 câu, cho nên ngài mới nói ông Tu-bồ-đề đừng nghĩ như thế. Tại sao một người khi nghe xong kinh nầy rồi lại còn thắc mắc hỏi việc tu thành Phật cuối cùng rồi chẵng được gì sao ?  đức Phật đã có nói  "được" đấy chứ ! nhưng có mấy ai chịu nghe và bằng lòng, ngài nói thân tướng thì vẫn thế, lúc trước thấy nó là giả tạm bây giờ mới biết nó là thân chân thật nên tên gọi lúc sanh ra không còn mà được mọi người thay thế bằng từ : Thành gọi là Phật. Đó là việc Thành của người được giải thoát giác ngộ. Tên của mình có là do Ngã-tướng dựa trên Nhân-tướng...Phật là chỉ cho trạng thái không có hình tướng, nên Ngã-tướng và Nhân-tướng không còn, đã tướng không còn thì ý niệm linh hồn tức Thọ-giả tướng có đâu để đi tái sanh ?  Người tu theo đạo vô-ngã mà còn mong được thành cái gì để lại thì ý nghĩa các tướng còn đậm nét hơn, người còn muốn được gì thì năng đọc tụng thọ trì lại từ đầu bộ kinh, khi tất cả mọi ý nghĩ  "được"  không còn khởi lên nửa thì đó là lúc gọi  "chứng" vậy thôi.
Nên nhớ : đạo Phật không phải là tôn-giáo nên người tin theo không phải là người tu, không cần phải cạo đầu hay xuất gia, không cần phải ăn chay trường hay bốn lần trong tháng và cũng không cần cầu nguyện hay làm theo bất cứ hình thức nào mà các tôn-giáo đã tạo ra. Chùa chiền, đền thờ hay thánh điện là nơi để cầu nguyện, mọi hình thức cầu nguyện thuộc về tôn-giáo, tôn-giáo là đức tin, tin có đấng, cõi, thượng đế để mong cầu...tất cả đều do con người tưởng tượng rồi xây dựng nên. Cho nên chữ tu, người tu, có chổ cầu nguyện là có tôn-giáo, do vì lẽ đó mà đức Phật nhắc đi nhắc lại việc đem tài thí nhiều như núi Chúa Tu-di để xây cất chùa, đền thờ, đúc tượng cốt...đều vô bổ chẳng có phước đức chi cả là như thế. Cho nên người gọi là Tu theo đạo Phật thì chẳng cần sửa đổi gì cả theo giáo lý Phật giáo thì cái  "được"  nó đã có sẵn chỉ cần Nhẫn là nhận ra.
Người phát tâm vô-thượng chánh đẳng chánh giác là người đã thấy hiểu các pháp không có tướng đoạn diệt, hiểu tất cả pháp có đều do duyên sanh xưa nay vẫn thế mà chẳng có diệt hay mất đi đâu...đó là người thấy được Nhưlai.
Người đã phát tâm vô-thượng chánh đẳng chánh giác rồi mà còn "nói các pháp đều đoạn diệt". Đoạn diệt nghĩa là chấp vào tướng khi chết rồi thì mất hẵn không còn lại gì cả...là những người chỉ thấy ở điểm cuối không thấy lúc khởi đầu và rồi vũ trụ sẽ điêu tàn dần không còn một cái gì để lại...đó là những người không hề thấy biết về Nhưlai.
Nhắc lại, đức Phật thuyết tất cả chúng sanh đều có phật tánh và mỗi chúng sanh đều có 3 thân:
- Hóa thân hay còn gọi là Ứng hóa thân do thất đại tạo thành.
- Báo thân là sự đền trả, theo lý nhân qủa chỉ cho tướng xấu, tốt, nam hoặc nữ.
- Pháp thân là bản thể vô thỷ vô chung, như như của vạn pháp, do đủ duyên nên có ra như thế rồi mất như thế.
Tuy nói ba thân nhưng chúng là một, trong cái một nó bao gồm tất cả...


Nầy Tu-Bồ-Đề! Nếu Bồ-tát đem bảy thứ báu đầy cả những cõi nước bằng số cát sông Hằng để làm việc bố-thí.
Nếu lại có người biết lý vô-ngã của tất cả pháp mà đặng thành nhẫn trí. Vị Bồ-tát nầy được công-đức hơn phước-đức của vị Bồ-tát trước. Bởi vì sao? Nầy Tu-Bồ-Đề! Vì các vị Bồ-tát không nhận lấy phước-đức.”
Ông Tu-Bồ-Đề bạch với đức Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Tại sao các vị Bồ-tát không nhận lấy phước-đức?”
“Nầy Tu-Bồ-Đề! Vị Bồ-tát phàm có làm việc phước-đức thời chẳng nên tham-trước, vì thế nên nói là chẳng nhận lấy phước-đức.

Nơi phần đầu kinh đức Phật dùng từ  "người" tức "thí chủ" làm việc bố thí tài nhiều như số cát sông Hằng...đến đây ngài nói đến việc làm bố thí của Bồ-tát cũng dùng 7 báu nhiều như thí chủ trước kia để đem ra so sánh về công đức. Việc làm của thí chủ trước kia đức Phật nói phước có nhưng rất mỏng cạn, không bằng người chỉ đọc tụng thọ trì 4 câu trong kinh nầy. Rồi ngài ví dụ nếu Bồ-tát đem bảy thứ báu đầy cả những cõi nước bằng số cát sông Hằng để làm việc bố-thí...thì cũng chẳng nhận được phước gì của ai ban cho, thế thì nếu đem hai việc làm bố thí nầy để so sanh thì đâu có khác chi ? pháp hành về tài thí thì ngang nhau nên phước đức cũng mỏng cạn ngang nhau, chỉ khác nhau ở điểm là "Thí chủ"  và  "Bồ-tát". Thí chủ là đại gia nên 7 báu là điều có thể, còn Bồ-tát là bậc xuất gia thì 7 báu nầy do đâu có ? cho nên ngay cả người tu và người không tu khi chưa bằng lòng với cái hiện mình đang có thì gọi là tham. Tham tức còn mong cầu tìm vui say đắm trong ngũ dục, dùng mọi hình thức để tạo ra tiền nên đức Phật gọi là "tham trước", người còn tham trước không thể gọi là bồ-tát vì họ chưa biết nghĩa lý của vô ngã là gì ?  cho nên đức Phật dạy : vô ngã là người không còn cảm thọ bất cứ điều gì, không còn ý tưởng về tham danh cầu dục,  không bận tâm vào vật để bám víu dù là qủa bồ-đề hay Niết-bàn vô thượng. Bồ-tát mà hành pháp nhẫn dù có ai đem 7 báu nhiều như số cát sông Hằng đến cúng dường thì cũng phải nhẫn trí cho đến khi không có thứ gì cần phải thọ nhận. Nếu đã gọi là bồ-tát mà không nhẫn thì làm sao có được vô ngã ? người biết được diệu dụng của sự an lạc rồi giảng nói lại cho người khác nghe thì công đức của vị bồ-tát nầy hơn hẵn mọi phước đức của những vị bồ-tát tham trước.
Trở lại kinh đây là phẩm đức Phật phá bỏ tệ trạng người tu hành, đã là bồ-tát mà quên đi nhẫn-trí chỉ dạy thí chủ dùng tài thí cúng dường để đổi phước hơn là hiểu biết về lý vô-ngã.

Nầy Tu-Bồ-Đề! Nếu có người nói: Đức Như-Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm, thời người ấy không hiểu nghĩa của Phật nói. Bởi vì sao? Vì Như-Lai đó, không từ nơi nào lại, mà cũng không đi về đâu, nên gọi là Như-Lai!
Như-lai không phải là tướng, nhưng do vì chúng sanh chấp trên 32 tướng nên nói có: đi, đứng, nằm, ngồi. Nhưlai là bản thể bất sanh bất diệt, không có ngã nên chẳng có linh hồn, Nhưlai tựa như đám mây, đi đến đều như thế mà không có mục đích, nên gọi là : đức Như-lai.


Nầy Tu-Bồ-Đề! Như có trang thiện-nam, người thiện-nữ, đem cõi tam-thiên đại-thiên đập nát ra vi-trần. Nơi ý ông nghĩ thế nào? Các vi-trần đó có nhiều chăng?”
Ông Tu-Bồ-Đề bạch rằng “Bạch đức Thế-Tôn! Rất nhiều. Bởi vì sao? Vì nếu những vi-trần đó là thiệt có, thời đức Phật chẳng nói là những vi-trần.
Vì cớ sao thế? Vì đức Phật nói những vi-trần chính chẳng phải những vi-trần, đó tạm gọi là những vi-trần.
Bạch đức Thế-tôn! Cõi tam-thiên, đại-thiên của đức Như-Lai nói, chính chẳng phải thế-giới, đó gọi là thế-giới. Bởi vì sao? Vì nếu thế-giới là thiệt có ấy, thời là một hợp-tướng.
Đức Như-Lai nói một hợp-tướng chính chẳng phải một hợp-tướng, đó tạm gọi là một hợp-tướng”.
“Nầy Tu-Bồ-Đề! Một hợp-tướng đó bèn là chẳng thể nói được, chỉ nơi kẻ phàm-phu tham trước việc ấy thôi.

Không có trang thiện-nam, người thiện-nữ nào làm được việc đem 3 ngàn cõi đại thiên đập nát ra thành vi-trần. Đây là đoạn đức Phật nói về sự thành hình một con người với 3 thân qua lý duyên sanh, để hiểu rõ đoạn nầy : vi-trần là hạt bụi nhỏ li ti mắt thường không thể thấy được nên ngài  "tạm gọi đó là những vi-trần", trong những số vi-trần nầy tạm chia ra làm 7 thể loại gọi là thất đại chờ đủ duyên để hội tụ thành Ứng-Hóa thân. Thế giới là từ dùng chỉ cho một chúng sanh tức Báo thân là do sự tương quan của vô số vi-trần : hút đẩy, ít nhiều, nặng nhẹ mà có ra nên đức Nhưlai tạm gọi đó là một hợp-tướng. Ba ngàn cõi đại thiên là Hư-không chỉ cho Pháp thân bao quát cả vũ trụ.
Đức Phật thuyết : "Như có trang thiện-nam, người thiện-nữ, đem cõi tam-thiên đại-thiên đập nát ra vi-trần" nghĩa là khi chết bất kỳ ở đâu, dù nam hay nữ khi đem thiêu tất cả trở thành tro bụi hòa vào hư không nên trong kinh nói rằng : thất đại trả về cho thất đại...là trở lại với tánh thanh tịnh là Pháp thân của mình nên nói thế giới nghiền nát ra vi-trần là thế. Vi-trần và thế giới là một, do vô số vi-trần theo duyên là sự nương gá nên kết tụ thành thế giới, chúng không khác nhưng tên gọi thì khác vì đã trở thành một pháp trong muôn vạn pháp. Thế giới là Báo thân vì do vô số vi-trần kết hợp lại nên đức Nhưlai nói " không thật ", bởi vì mọi hình tướng đều là pháp hữu-vi có sanh thì có diệt nên còn gọi là huyễn tướng nhưng phàm phu vì sống trong sự cầu nguyện để được ban bố nên chấp vào thượng-đế là có thật nên sanh ra con người là Thật.



Monday, July 28, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2     PHẦN NỘI DUNG    < t >

Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Các ông chớ cho rằng đức Như-Lai nghĩ như vầy: Ta phải hóa-độ chúng-sanh. Nầy Tu-Bồ-Đề! Ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì thiệt không có chúng-sanh nào đức Như-Lai độ cả. Nếu có chúng-sanh mà đức Như-Lai độ đó, thời đức Như-Lai còn có tướng ngã, nhơn, chúng-sanh, thọ-giả.
Nầy Tu-Bồ-Đề! Đức Như-Lai nói có ngã đó chính chẳng phải có ngã, mà kẻ phàm-phu lại cho là có ngã.
Nầy Tu-Bồ-Đề! Phàm-phu đó, đức Như-Lai nói chính chẳng phải phàm-phu, đó tạm gọi là phàm-phu.
Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do nơi ba- mươi-hai tướng mà xem là đức Như-Lai chăng?”
Ông Tu-Bồ-Đề bạch rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Do nơi ba mươi hai tướng mà xem là đức Như-Lai”.
Đức Phật dạy rằng: “Nầy Tu-Bồ-Đề! Nếu do nơi ba mươi hai tướng mà xem là đức Như-Lai đó, thời vua Chuyển-Luân-Thánh-Vương chính là đức Như-Lai rồi!”
Ông Tu-Bồ-Đề bạch với đức Phật rằng “Bạch đức Thế-Tôn! Theo như con hiểu nghĩa-lý của đức Phật nói, thời chẳng nên do nơi ba-mươi-hai tướng mà xem là đức Như-Lai”. Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng tiếng tăm cầu ta,
Người ấy tu đạo tà!
Chẳng thấy được Như-Lai.

Người mà cho rằng mình có độ chúng sanh thì như đức Phật đã nói còn tướng ngã, người còn ngã tướng tức phàm phu mà đã gọi là phàm phu với phàm phu nghĩa là không ai chứng đắc thì ai độ ai ? Ngài dùng chữ Ta là danh từ để chỉ cho người nói, trong khi chúng sanh chấp cho đó là Ngã. Cho nên đức Nhưlai nói Ngã < Ta> đó không phải là cái ngã mạn mà phàm phu hiểu. Đức Phật xác định lại một lần nửa rằng : " thiệt không có chúng sanh nào đức Nhưlai độ cả. " vì sao ? bởi vì chúng sanh đó họ đều có đầy đủ ngũ- nhãn, giống như người mua một chiếc xe hơi mới với đầy đủ chức năng mà chưa biết cách xử dụng hết đó thôi, họ đều là những tài xế giỏi và phi công điêu luyện sau nầy. Ngài không phải là người sáng chế ra các chức năng đó mà là hướng dẩn chỉ bày cách xử dụng khi nào thì cần đến và dùng cho trường hợp nào.
Cho nên khi nói độ chúng sanh thật ra Nhưlai không có độ ai cả, bởi vì theo như đức Phật đã dạy : pháp giới đều bình đẳng, việc độ giúp người là phải quên mình đừng nghĩ đến việc báo đáp trả lại, mà như đức Phật đã nói tất cả chúng sanh đều có phật-tánh thì sao nói độ chúng sanh được ?.
Vậy, nếu không có chúng sanh nào để độ thì danh từ Bồ-tát nghĩa là : " hữu-tình giác, giác hữu-tình " gọi để làm gì ? và hành "Lục độ vạn hạnh" để làm chi ?
Đứng về mặt pháp giới việc làm không thấy có người độ và người được độ thì đó mới gọi là bồ-tát thật nghĩa tức ngã tướng nhân tướng và chúng sanh tướng không còn. Thí dụ : trên đường đi bộ về nhà tình cờ thấy đứa trẻ chạy té nằm úp mặt xuống đất khóc không thể ngồi dậy được...nếu mình đến đở cháu dậy thoa bóp, vỗ về để làm dịu cơn đau của cháu rồi hỏi thăm đưa cháu về hoặc chờ người nhà đến mà không cần biết đứa bé đó là con ai. Tức là việc làm theo " đáp ứng " nên không thấy có người giúp và người được giúp. Nếu cũng cùng sự việc đó, mình đến đứng xem quan sát đứa bé đó là ai ? có phải con của bạn mình hay ở chung xóm không hoặc da trắng hay da đen...nếu quen biết thì giúp đở còn không thì sợ họa lây...việc suy nghĩ như thế gọi là sợ " phản ứng " nên không thể là bồ-tát thiệt nghĩa được.
Thí dụ khi mình làm việc từ thiện giúp đở một người ăn xin, khi bố thí mình có nghĩ rằng sau nầy do nhân duyên họ trở thành triệu phú rồi tìm kiếm mình để trả ơn không ?
Trở lại kinh gọi là Bồ-tát độ được chúng sanh tức là vị bồ-tát đó hoàn toàn nhận thấy biết được pháp lý bình đẳng : "Tâm, Phật, Chúng sanh"  đều đã đồng, nên nói độ là độ ai ?
Rồi liền sau đó đức Phật đưa ra 32 tướng để nói rõ thêm về cụm từ "đức Nhưlai" và "chuyên luân thánh vương".
Trở lại lịch sử như tất cả chúng ta đều biết, sau khi thái-tử vừa sanh ra thì nhà tiên-tri  Atuđà đến xem tướng rồi nói : thái-tử có 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp, sau nầy sẽ là vị vua Chuyễn- luân thánh- vương hiền đức nhất trong thiên hạ hoặc ngài là bậc Chuyễn-pháp-luân tức là bậc giác ngộ cứu dân độ thế...mà các Tổ dùng từ đức Nhưlai để chỉ cho sự thành Phật nầy. Bởi vì đức có nghĩa là người làm những việc lợi ích cho nhân quầng xã hội mà không quảng ngại về sức khỏe và thân xác của mình, như ở VN chúng ta có đức Thánh Trần-hưng-Đạo chẵng hạn. Còn bậc "chuyễn-luân thánh-vương" là từ ngữ chỉ sự chứng đắc thành Thần, thành Thánh làm vua một trong 33 cõi trời của ngoại đạo, việc chứng đắc nầy đều dựa trên hình tướng của khuôn mặt đã tự tô vẽ ra. Do vậy để tránh sự nhầm lẫn nên đức Phật hỏi ông Tu-bồ-đề nghĩ thế nào, có do nơi 32 tướng mà cho đó là bậc giác ngộ chăng ?
Ông Tu-bồ-đề giả vờ lẹ làng lớn tiếng : "đúng thế, đúng thế". Ở đây không phải ông Tu-bồ-đề không biết, mà ông nói để xem từ đầu đến giờ có ai tinh tấn theo dõi lắng nghe hay không ? câu nói nầy nhằm để làm thức tỉnh mọi người hãy chú tâm lắng nghe về hai cụm từ "đức Nhưlai" và "chuyễn-luân thánh-vương", sau đó đức Phật dạy lại: Nhưlai nghĩa là pháp thân bình đẳng đồng nghĩa với hư-không là bản lai diện mục của chính mình, người tu theo đạo lý vô-ngã thì không thể chạy theo hình tướng rồi dựa vào đó cho là Phật là đức Nhưlai. Người ngoại đạo việc chứng đắc họ dùng từ  "chuyễn-luân thánh-vương" để chỉ cho việc thành Thần, gương mặt sẽ được sơn vẽ lại cho khác với phàm phu, vì thế mà đức Phật nói lên bài kệ rằng:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng tiếng tăm cầu ta,
Người ấy tu đạo tà !
Chẳng thấy được Như-lai.


Sunday, July 27, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2     PHẦN NỘI DUNG     < s >

Nầy Tu-Bồ-Đề! Như trong cõi tam-thiên, đại-thiên, có bao nhiêu núi chúa Tu-Di, nếu có người góp cả bảy thứ báu lại, bằng những núi Tu-Di đó, đem dùng mà bố-thí.
Nơi kinh Bát-Nhã Ba-La-Mật nầy nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v… nếu có người thọ trì, đọc-tụng, giảng nói cho kẻ khác nghe, thời phước-đức của người bố-thí trước, sánh không bằng một phần trăm, một phần nghìn, muôn ức, cho đến tính đếm thí-dụ đều chẳng bằng được.

Đức Phật lập đi lập lại về việc bố thí tài là để nhắc nhở chúng ta nên lưu ý và quan tâm, ngài dùng chữ chúa tu-di...chúng ta dư biết núi đó to lớn như thế nào rồi, mà núi Tu-di thì chỉ có một, nhưng tại sao ngài hỏi trong cõi tam-thiên đại-thiên có bao nhiêu núi chúa Tu-di ? như đã biết núi Tu-di là chỉ cho tánh tham lam của con người, khi một người được gọi là "tham chúa" tức hành động và việc làm của mình được biểu lộ qua thân tướng, chỉ biết có mình không quan tâm đến người khác, tin sâu vào nhân-qủa đem 7 thứ vật chất qúy hiếm trên đời làm việc bố thí như xây chùa đúc tượng để kiếp sau được sanh về cõi cực-lạc hưởng lại nhân mà mình đã gieo. Đó là sự tham cầu lợi ích, có tính cách trao đổi là hình thức tu hưởng phước của thế gian, mà vàng ngọc của báu là vật ở ngoài thân đều là những thứ giả tạm trói buộc mình làm cho thân bất tịnh ngày đêm phải lo canh giữ tạo thêm cái khổ cho con người...người mà có tài thí nhiều như núi Tu-di thì lòng tham và cảnh khổ to và cao lớn biết chừng nào ? có thể đem những thứ ràng buộc ấy mà đánh đổi được tự-do chăng ?
Do vậy mà đức Phật nói người bố thí nhiều như thế phước của họ cũng không bằng một phần trăm, một phần ngàn, muôn ức...đối với người đọc tụng và thọ trì kinh nầy chỉ cần bốn câu, thế thì diệu dụng của kinh nầy qúy hiếm biết chừng nào, đúng không ?
Cực-lạc là cốt lõi của cuộc sống nó không phải là những vật ở ngoài thân kết tụ lại, thất bảo là do con người tạo dựng nên nền móng để nắm bắt làm sở hữu, đó là những thứ làm cho con người đam mê và trở thành nô lệ vật chất, chỉ có khổ đau thật sự mà không có được cực lạc. Người mà vào đại hải để tìm thất bảo như trong kinh Pháp-hoa Phật đã thuyết thì chúng sanh đó chỉ là những kẻ khổ chứ không thể trở thành người cực lạc được. Người gọi là cực lạc, Phật thuyết là người có tam nghiệp thanh tịnh thì người đó dù ở đâu cũng được tự do hoàn toàn, không thể bị thuyết phục hay dụ giổ, chỉ có người khổ mới dể tin và dể bị thuyết phục.
Đức Phật hỏi trong cõi ba ngàn đại thiên có bao nhiêu núi Chúa Tu-di ? có bao nhiêu chúng sanh thì có bấy nhiêu núi Tu-di, bởi vì con người tin rằng phước có là do mua cho nên thất bảo tạo nên chùa chiền, đền thánh tượng cốt đâu đâu cũng có và mỗi lúc một nhiều hơn. Đất thất bảo có là do cấu trúc nhân tạo, người muốn có cực lạc là phải tin vào sự tự nhiên của vũ trụ và bằng lòng sống với nó, thất bảo của mỗi chúng sanh nhiều bằng núi Tu-di tức tâm không thể tịnh nên cực lạc ý nghĩa sẽ trở thành sự nổi dậy và lòng tham mỗi lúc một nhiều không thể hóa giải được, khi chưa có ước có, khi có muốn lớn hơn và rồi đi đến phải nhiều hơn thì như thế mới trở thành Chúa Tu-di.
Tài thí thất bảo dù có nhiều như núi Tu-di mà đem làm việc bố thì đức Phật cho biết phước đó rất mỏng cạn, bởi vì người cúng không hiểu rõ nơi để cúng, còn thấy giá trị của vật cúng, còn thấy có Ta cúng nên việc bố thí đó trở thành vô nghĩa đôi khi việc bố thí nhiều như thế lại trở thành điều kiện ắt có và đủ...
Trong truyện Tây-du ngài Ngô-thừa-ân dựng lại câu chuyện " Tiểu Lôi-âm " để đánh thức mọi người, dùng tên chùa để dụ người hiếu phước, bên trong tất cả mọi thứ đều bằng vàng rồng ngay cả đôi chân mài của ma vương Huỳnh-mi Lão tổ cũng được chiếu sáng lấp lánh...Tôn-ngộ-không là đại diện cho trí tuệ khi bị chuông vàng úp lại thì không tài nào ra được...thế thì chúng ta nghĩ thế nào ? thất bảo của nhiều đại gia bố thí nay trở thành chùa Lôi-âm là nơi cực lạc, vậy phước đó có nhiều không ?
Cho nên đức Phật thuyết phước đó cũng không bằng muôn ức của người đọc tụng thọ trì kinh này vì kinh Kim-cang là phước báu ở trong thân là trí tuệ sáng suốt sẵn có tự nơi thân không bao giờ bị tiêu hoại nên không thể nào so sánh với vô số cái giả tạm bên ngoài. Người mà nhẫn đến một bài kệ 4 câu như trong kinh nầy, "đọc tụng" nghĩa là đọc để hiểu rõ ý kinh, "thọ trì"  là áp dụng thực hành, cho nên đức Phật dạy có học phải có hành đó là năng độ, là tự mình thực hành để hóa giải mọi phiền não khổ đau cho chính bản thân mình trước xong rồi với kinh nghiệm đó chỉ bày hướng dẩn hay giảng nói lại cho người khác nghe thì đức Phật nói phước báu của người ấy không thể lường bởi vì họ đã nhận ra được phật-nhãn có từ nơi mình là trí tuệ tràn đầy.


Friday, July 25, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2        PHẦN NỘI DUNG   < r >


Ông Tu-Bồ-Đề bạch với đức Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Đức Phật chứng được Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác là không có chỗ chi là được sao?”
Đức Phật dạy rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Nầy Tu-Bồ-Đề! Ta ở nơi Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, nhẫn đến không có chút pháp chi có thể gọi là được đó mới gọi là Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác”.
Lại nữa, nầy Tu-Bồ-Đề! Pháp đó bình đẳng, không có cao, thấp, đó gọi là Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.
Do vì không ngã, không nhơn, không chúng-sanh, không thọ-giả, mà tu tất cả pháp lành, liền được Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.
Nầy Tu-Bồ-Đề! Pháp lành đã nói đó đức Như-Lai nói chính chẳng phải pháp lành đó tạm gọi là pháp lành.

Việc gọi là chứng ngộ quả Vô-thượng chánh đẳng chánh giác là việc gì đó mình mới khám phá ra từ cái chưa biết nầy đến cái chưa biết khác. Chân lý là những điều bí ẩn tìm tàng trong vũ trụ không thể nào biết hết được, các nhà bác học tìm ra sức đẩy của nước, sức hút của trái đất, thiên văn và nhiều phương trình toán học khác...đó là lúc họ ngộ nhận ra chân lý chớ không phải họ sáng chế ra hay chạy đi tìm kiếm. Lúc ông Archimedes tuyên bố tìm ra được sức đẩy của nước trong khi ông đang tắm trong bồn, không phải từ lúc đó nước mới có sức đẩy mà lực đã đẩy từ khi nước có mặt...cho nên chân lý không thể dạy không thể thuyết vì vậy đức Phật nói không hề có chứng đắc. Danh từ chứng đắc là của đạo Bàla-môn, dùng để chỉ cho các bậc Tiên nhơn tu thành Thánh có thần thông đi trên mặt nước ngồi trên mây, là các nhà tiên-tri, chửa bệnh cứu người trừ ma yếm qủy...cũng là các vị thần cầu mưa, cầu gió giúp vạn dân...đạo Phật tu không phải để làm những việc đó cho nên khi qua sông đức Phật dùng đò và chỉ trả 2 xu, trong khi người tu theo ngoại đạo muốn qua sông không cần đò thì phải mất thời gian tu tập 20năm. Việc cầu mưa cầu gió nếu được thì dân Ấn-độ xưa nay đâu có cảnh chết đói vì nạn hạn hán.  Đối với những người không thấy mà tin họ cho rằng việc chứng đắc là đi dưới mưa  không bị ướt, điều nầy có thể được chăng ? ...do vậy mà đức Phật xác nhận rằng Nhưlai không có chứng đắc là để nói rằng ngài không làm được những việc đó. Vậy theo đạo Phật qủa vô thượng bồ-đề có hay không? cho nên ông Tu-bồ-đề thay chúng ta hỏi Phật, ý rằng : nếu không chứng được quả vô-thượng chánh đẳng chánh giác thì tại sao được gọi là Phật ?
Gọi Phật, gọi vô thượng bồ-đề hay nói vô thượng chánh đẳng chánh giác gì cũng cùng một nghĩa là Giác, người Ấn-độ thời đó dùng từ "Bouddha" là để chỉ riêng cho một người sáng suốt tỉnh thức hoàn toàn rồi đánh thức mọi người dậy, khác với từ "Dharma" mà dân thời đó dùng để chỉ cho "thần quyền" là qủa tu chứng đắc của vị Sa-môn trở thành Thần hay Thánh, người muốn có gió cầu ra gió, muốn có mưa ra mưa...sau nầy đạo Phật dùng chữ "Dharma" để chỉ cho Pháp. Cũng vì chữ Boudha là chỉ cho Phật là những người tu theo Phật, chữ Dharma là chỉ cho Pháp khác với ý nghĩa bậc Thần quyền của ngoại đạo, nên khi tranh luận mà có ra : " Phật có trước hay Pháp có trước ?" đó là câu hỏi đã đưa ra từ đó mà nơi phần đầu chúng ta đã có chia sẻ qua.
Đó là dự theo văn tự và nghĩa lý để chia sẻ, với đạo Phật chủ trương tu để biết bản ngã là không có, mà khi thấy biết được thân mình là giả tạm thì có cái gì sau đó gọi là Thành ?

Thí dụ cho dể hiểu : khi nói căn nhà là chỉ cho thân do 5 uẩn tạo thành, khi nhà mới có thì bên trong hoàn toàn trống rổng giống như tâm của đứa trẻ hồn nhiên và vô tư, rồi do sự bon chen đua đòi thêm vào của bản ngã mà có ra đủ thứ vật chất bên trong, bản ngã càng được nuông chiều thì tiện nghi trong nhà càng nhiều và lối đi càng hẹp lại trong sự bị gò bó...mọi vật chất đều là pháp hữu-vi, có rồi mất như mây nổi...nhưng Tánh của chúng là Tham, là muốn Có, muốn thêm vào, khi thêm vào không được thì Sân, khi mọi thứ chợt mất hết thì khổ đau rồi đưa đến tự vận thì đó là Si. Đạo Phật dạy buông bỏ, diệt trừ mọi ái dục, không có nghĩa là đem tất cả tài sản đổ xuống sông rồi vào chùa tu hay trở thành khất-sĩ xin ăn mà là bỏ đi cái Tánh ích-kỷ, bỏn xẻn, tham lam, gian dối, lừa đảo,giai cấp...những thứ mà xả hội tạo nên cái khổ cho con người. Tất cả mọi thứ đến với chúng ta đều có nguyên nhân cũng không hẳn rằng những điều mình muốn là được hoàn toàn dù là một vị tổng thống hay một vị vua đương kim. Adolf-Hitler của Đức-quốc-xả là một điển hình cho sự tham vọng về cái muốn của mình...
Đạo Phật nói "buông bỏ" là ngụ ý chỉ cho Thiền, trong lúc thiền không có nghĩa rằng mọi vật chất cần phải đem đi bỏ hoặc phải theo thứ tự bỏ cái nào trước cái nào sau, cũng không phải là vứt bỏ mọi suy nghĩ, nếu không có sự suy nghĩ thì biết cái gì để vứt bỏ ? mọi vật chất tiện nghi không phải là những thứ phiền não mà phiền não là cái Tánh ganh tỵ, so sánh hơn thua, không bằng lòng cái hiện tại mình đang có, nên phiền não ví giống như đám mây đen, buông bỏ là làm cho những đám mây đó không còn. Đời là vũ trụ mọi thứ đều thông thả tự nhiên không có gì ràng buộc, cuộc sống là vội vã, là "nhanh chân kẻo hết..." chỉ một lần mình té biết đau, khi đứng dậy mới biết qúy cái từ tốn. Tất cả mọi thứ đều hiện diện ở đó, những gì của mình thì nó thuộc về mình, như mọi vật chất đang hiện hữu trong căn nhà nầy chúng là của mình mặc dầu không hơn được cái khác nhưng cũng không thua những thứ khác...Phật dạy buông bỏ là đem cái Tánh mong cầu ơn trên cứu rỗi mọi thứ tham, sân, si của mình bỏ ra ngoài đừng để trong ký ức, khi mọi ham muốn không còn thì căn nhà trở nên trống rổng, nghĩa là tâm mình thanh tịnh, sáng suốt và rổng không đó là lúc trở về căn nhà củ của mình, xưa nay nó vẫn thế...
Ban ngày chúng ta nhìn lên bầu trời, không một tinh tú hay bất kỳ vì Sao nào xuất hiện, chúng không đi đâu cả, chúng vẫn lẩn quẩn quanh đấy chờ màn đêm buông xuống để mọi người được thấy...nhưng không phải ai cũng được thấy, người chạy tìm mọi thứ vật chất, sống trong nhà cao cửa rộng thì chẵng có ai quan tâm, người chịu từ bỏ mọi thứ ra ngoài, sống với thiên nhiên giống như thái-tử thì người đó sẽ thấy được sự hùng vĩ của nó...chứng đắc hay qủa vị chẵng là gì cả, chẵng qua chỉ là sự phát hiện ra toàn thể đều ở chổ ấy, không mất đi đâu nên việc thành Phật hay chứng qủa vô thượng chánh đẳng chánh giác là lúc nhận thấy biết qua mọi vấn đề mà không cần phải sáng chế hay giải thích thêm bất cứ điều gì. Vậy có phải người giác ngộ vẫn là một người củ không ?
Nên nhớ, người củ không thể giác ngộ, hình tướng và mọi vọng tưởng xem như đã biến mất và cơ hội để trở thành không còn..., nói như thế không có nghĩa rằng giác ngộ là trở thành một con người với thân tướng khác như loài hóa-sanh mà là cái tên củ không còn, tên mới được mọi người qúy kính và thay thế cho, gọi là đức Phật hay đức Nhưlai...đó là ý nghĩa trở thành.
Hai chữ "chứng đắc" là nói lên giai cấp cao qúy nhất thời đó mà giai cấp tu-sĩ là đứng đầu, bởi vì người tu được chứng đắc, họ có "lục thông" nên kinh điển đạo phật sau nầy cũng dựa theo đó mà gán cho Phật. Vì lẽ đó mà đức Phật nói : "
Lại nữa, nầy Tu-Bồ-Đề! Pháp đó bình đẳng, không có cao, thấp, đó gọi là Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.
Do vì không ngã, không nhơn, không chúng-sanh, không thọ-giả, mà tu tất cả pháp lành, liền được Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác."
Vũ trụ và chân lý không của riêng ai, đã gọi là tu, sao lại phân chia cao, thấp ? sao còn có Thánh có Phàm ? sao gọi là vô-thượng chánh đẳng chánh giác ? vậy bốn tướng : ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả có còn không ?
Phật thuyết tất cả pháp đều bình đẳng, đều là pháp lành. Lành ở đây là chỉ cho nguyên vẹn không còn dính vào hai bờ, muốn được như thế thì phải "Nhẫn đến không có chút pháp chi có thể gọi là được..." là chỉ cho việc thực hành, tất không còn chổ trụ, không còn dính mắc hay đam mê đó là ý nói trạng thái "đối cảnh vô tâm", người như thế đức Nhưlai nói : không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả...là người tu tất cả các pháp lành vậy thôi chớ chẵng có vô-thượng chánh đẳng chánh giác chi cả...vì pháp giới là nhất chân.

Wednesday, July 23, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2       PHẦN NỘI DUNG   < q >


“Nầy Tu-Bồ-Đề! Ông chớ nói rằng đức Như-Lai nghĩ thế nầy: Ta nên có chỗ thuyết pháp, ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì nếu người nào nói rằng: Đức Như-Lai có thuyết-pháp, thời là hủy báng đức Phật, không hiểu được nghĩa-lý của Phật nói.
Nầy Tu-Bồ-Đề! Thuyết pháp đó chính thiệt không có pháp chi nói được, đó tạm gọi là thuyết pháp.”
Bấy giờ, ông Huệ-Mạng Tu-Bồ-Đề bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Trong thời vị-lai, chừng có chúng-sanh nào nghe nói pháp nầy mà sanh lòng-tin chăng?”
Đức Phật dạy rằng: “Nầy Tu-Bồ-Đề! Chúng-sanh kia chẳng phải chúng-sanh, cũng chẳng phải là không-phải-chúng-sanh. Bởi vì sao? Nầy Tu-Bồ-Đề! Những chúng-sanh, chúng-sanh đó, đức Như-Lai nói chẳng-phải chúng-sanh, đó tạm gọi là chúng-sanh”.

Bây giờ đến phần đức Phật hỏi ngài có Chổ thuyết pháp hay không ? đức Nhưlai có thuyết pháp hay không ? đây là chổ trọng yếu của kinh này là chỉ bày về tánh không. Đức Phật đã lập đi lập lại nhiều lần và nói rằng "Nhưlai không hề có nói pháp",  nơi đây ngài "vỗ bàn" nhấn mạnh thêm một lần nửa là để đối trị lại những ai còn lơ đển không quan tâm, những ai nói : "Đức Như-Lai có thuyết-pháp, thời là hủy báng đức Phật".
Chữ "Chổ" là trụ, người thấy có "chổ thuyết pháp" là còn bám dính vào danh sắc của cảnh trần. Sách vở thường hay dùng từ : đi tìm chân lý. Vậy chân lý ở đâu mà tìm ? đức Phật nói về chân lý ! chân lý của vũ trụ vậy ngài có đi tìm không ?  chân lý không phải ở dưới cội cây bồ-đề và cũng không phải đợi đủ 49 ngày chân lý mới nở hoa mà ngày nay nhiều người lầm tưởng rồi tìm đến Chổ đó hoặc dưới tàn cây lớn khác Trụ để được thành phật. Hạnh phúc là một phần của chân lý, chúng ta cảm nhận được hạnh phúc khi mọi việc được thay đổi theo ý muốn của mình. Hạnh phúc đó chỉ có ở riêng mình mà đôi khi có thể làm cho người khác cảm giác khó chịu nhưng chân lý là cái dể chịu đến với mọi người, chỉ có người bằng lòng chấp nhận thì mới thật sự có hạnh phúc.
Ngón Tay chỉ vầng Trăng : ngón tay là sự im lặng, ngón tay không phải là đường thẳng cũng không có lời nói trong đó, trăng là ánh sáng chân lý không phải chân lý chỉ có bấy nhiêu, ánh sáng của trăng chỉ là ảo giác, thời gian nó đến để chúng ta được thấy mất gần sáu trăm năm, vậy so với số kiếp của đời người thì phải trải qua bao nhiêu ?  Trăng không phải Chổ phát ra ánh sáng cho toàn thể vũ trụ và cũng không phải cầu mới có, khi mọi ý nghĩ mong cầu không còn thì chân lý sẽ hiện ra, giống như người giúp mua vé số còn lại của một cụ già với tâm không mong cầu rồi thần tài đến gỏ cửa...làm sao chúng ta có thể dùng ngôn từ để diển tả sự giật mình vì sung sướng ? sự giác ngộ cũng thế, chân lý đến với mình không vội vã mà là sự "bất chợt".
Giống như có một người họa sĩ nổi danh, ông ta ra đồng ngồi vẽ cảnh một buổi chiều tà, có mặt trời, mây, núi, rừng cỏ xanh, dòng sông uốn khúc, có chim cò, bò trâu đang uống nước, có cô gái đang gánh lúa về làng...ông tuyên bố đó là tuyệt tác phẩm của ông, khi đem bán có nhiều nhà bình luận nổi tiếng về tranh đến, người nói sai chổ nầy kẻ thì cho chổ kia không đúng...người họa sĩ nghe xong vui vẽ cười và cám ơn những lời phê bình đóng góp đó, xong ông ta đưa cho các nhà phê bình mỗi người một cây cọ và một biển mực rồi nói :
- xin nhờ các ngài chỉnh lại cho đúng để không còn thấy sai.
Khen chê, nói đúng nói sai là chuyện thị phi, tại sao hình ảnh một người gánh lúa trên hai vai lại cho là sai ? phải gánh một vai mới đúng ? biện luận, phê bình, chỉ trích chỉ là những sự hấp thụ vay mượn qua sách vở, họ là những người xa thực tại không sống trong chân lý, không đối diện với sự thật trước mặt, ôm ấp những vọng tưởng chưa tiến hóa lập đi lập lại những thứ củ xì đôi khi nói mà không biết mình đang nói gì, bởi vì bức tranh đó không phải là của mình...cho nên chân lý nó là như vậy, thiên nhiên nó là như vậy, trước mắt mọi sự diển ra như vậy, chân lý tựa như bức tranh sống động nhưng không có ngôn từ trong đó...vậy thì đức Nhưlai có pháp chi mà nói không ?
Đức Phật phủ nhận việc chứng đắc thì làm sao có thể diển tả cái rổng không, không có gì ? đã không có thì nói để làm chi ?  người còn giảng nói tức là còn thấy mình là thầy, người nghe là đệ tử nên còn nhân tướng và ngã tướng,mà các hiện tượng có sanh có diệt là pháp của vũ trụ không phải của mình, người còn nói chuyện của thiên hạ là còn thị phi, cho nên người im lặng là người sống bên Như lai và chỉ có những người đó mới nghe được diệu âm phát ra từ hư không.
Thuyết pháp là nói cho nghe chỉ có sự lắng nghe, trong đó không có câu hỏi và câu trả lời, đó mới chính thiệt gọi là thuyết pháp, giảng pháp là giải thích hiện tượng do không tỏ ngộ nên mới có câu hỏi và câu trả lời. Cho nên đức Phật không có dạy cho chúng ta câu trả lời mà chỉ phương pháp để tự tìm câu trả lời...đó gọi là Thiền. Chân lý không được dạy cho nên thiền đường không phải là trường học nên nơi đó không có thầy là năng thuyết và đệ tử là sở thính, cả hai năng sở đều triệt tiêu thế thì đức Nhưlai có nói pháp chăng ?
Cho nên vào thời mạt thế là thời không có Phật ra đời, người còn chổ trụ để nói pháp tức pháp đó không phải là phật pháp cho nên dựa theo kinh Kalama phải hiểu rằng nơi câu:  đừng tin vào những gì ghi trong kinh điển, băng điả nhất là có đề: mọi sự phát tâm cúng dường xin liên lạc về địa chỉ, email và số điện thoại..v..v. vì còn thấy có chổ thuyết, có chổ nhận sự phát tâm đó là hình thức "hủy báng đức Phật, không hiểu được nghĩa lý của phật nói."
Nghe xong, một lần nửa ông Tu-bồ-đề lo nghĩ về chúng ta, ông không khóc bởi vì ông được huệ-mạng, ông có huệ-nhãn là con mắt thứ ba để quan sát về chổ chứa bên trong ông, nơi đó hoàn toàn trống rổng không có bất cứ  thứ gì ngay cả một giọt nước mắt, ông chỉ quan tâm bởi vì bấy giờ ông trở thành người quan sát bằng huệ-nhãn, vì lời pháp đó về sau khó có người tin nổi, nhưng đức Phật hiểu ý và dạy rằng : "nầy Tu-bồ-đề, chúng sanh kia chẵng phải chúng sanh..." ba chữ  "chúng sanh kia" là chúng sanh mà Nhưlai nói đó là loài hữu-tình do năm uẩn hợp thành, chúng có đầy đủ các đức, tánh và sẽ trở thành một vị Phật trong nay mai nếu họ nghe mà thấu hiểu kinh nầy rồi thọ trì đọc tụng thì họ cũng giống như ông hôm nay, Tu-bồ-đề à! ông chớ có lo, còn như chúng sanh mà Nhưlai nói : " chẵng phải là không phải chúng sanh" đó là loài vô tình như : đồng, đất, đá, gổ, thạch cao, ngọc qúy...v..v.. do nghệ nhân tưởng tượng hình tướng rồi đục, đẻo, nung đốt ra, chúng có đầy đủ sắc tướng nên "chẵng phải là không phải chúng sanh" chúng cũng là chúng sanh đấy. Do nhờ vào sự giả vờ của trưởng lão Tu-bồ-đề nên đức Phật mới nói rộng ra để mọi người tự hiểu. "Chúng sanh kia" là loài hữu-tình giác, biết tự chuyễn hóa vì có phật tánh, vì hiểu phật pháp, vì hành trên tám con đường chánh nên người đó đức Nhưlai nói là Phật sẽ thành. Còn loài vô-tình là loài bất giác vô tri, chúng thuộc loài hóa sanh từ các vật thể và bàn tay khéo léo của nghệ nhân tạo thành, chúng cũng là các vị Phật, các vị Bồ-tát, Thánh, Thần...tất cả chúng sanh ấy không tu mà chứng, rồi không thấy mà tin, với những người không thấy mà tin do vì họ mù nên dể bị lừa gạt...,cho nên phải bố-thí nhiều thì được phước nhiều.
Đức Phật đưa ra hai loại chúng sanh một loại có ngũ-nhãn và một loại vô-nhãn rồi nói : "tạm gọi là chúng sanh" để chúng ta phân biệt, tại sao thế ? bởi vì thời kỳ chánh pháp là thời gian đức Phật còn tại thế, chúng sanh mà đức Phật độ là chúng sanh có ngũ-nhãn, còn vô-nhãn thì thời điểm đó chưa ra đời vì đức Phật chưa viên tịch.
Trở lại để hiểu ý của ông Tu-bồ-đề, do vì nhân duyên đức Phật phá ngã và phá pháp để trở về Tánh không của bản thể nên những người chấp vào 32 tướng thì ngài nói không hề hiểu gì về phật cũng như không hiểu gì về sự giải thoát giác ngộ. Do vì lẽ đó mà ông Tu-bồ-đề hỏi : nhở sau khi đức Nhưlai viên tịch rồi tức nói thời vị lai của chúng ta đây, những chúng sanh căn cơ thấp mỏng tạo hình tượng cốt, đẹp đẻ rồi qùi lạy như đạo Bàla-môn hiện nay thì sao ? đó là lý do tại sao đức Phật nói "chúng sanh kia" là chỉ cho các bậc có từ huệ-nhãn trở lên còn
"chẵng phải là không phải chúng sanh", chúng là hóa-sanh nên ngài nói đó "tạm gọi là chúng sanh".





Tuesday, July 22, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2     PHẦN NỘI DUNG      < p >


“Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi ý ông nghĩ thế nào? Có thể do sắc-thân cụ-túc, mà thấy được đức Phật chăng?”
“Bạch đức Thế-Tôn! Không. Chẳng nên do sắc-thân cụ-túc mà thấy được đức Như-Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như-Lai nói sắc-thân cụ-túc, chính chẳng phải sắc thân cụ-túc, đó tạm gọi là sắc thân cụ-túc.”
“Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi ý ông nghĩ thế nào? Có thể do nơi các tướng cụ-túc mà thấy được đức Như-Lai chăng?”
“Bạch đức Thế-Tôn! Không. Chẳng nên do nơi các tướng cụ-túc mà thấy được đức Như-Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như-Lai nói các tướng cụ-túc, nhưng chẳng phải cụ-túc, đó tạm gọi là các tướng cụ-túc.”

Nơi phần trước đức Phật đưa ra 32 tướng rồi phá chấp, người mà thấy phật qua hình tướng thì không hề thấy Nhưlai, bởi vì thân tướng đều là giả tạm do nương gá nhau mà thành, cho nên đừng chấp vào các tượng cốt to lớn đẹp đẻ oai nghi tưởng rằng đức Nhưlai đang thiền trong đó rồi qùi lạy mong cầu phước báo. Hình nộm hay "thằng bù nhìn" tạo ra dùng để đuổi chim, tượng Phật xây lên chủ ý để nhắc nhở xua đuổi những vô minh tà kiến, dạy cho những người ít học kém trí. Đức Phật xưa kia trước khi thành đạo ngài cũng đã từng đốt nhang mồi đèn, cầu khấn giống như chúng ta hiện nay vậy thôi, nên đức Phật xác nhận rằng ngài có nhục-nhãn đấy chứ, đó là lời nói thật không phỉnh phờ. Đối với những người sống trong bóng tối ánh sáng đối với họ mới qúy và chỉ có những người ra khỏi tù thì mới hiểu được tự do, đó là từ cái thấy chuyễn qua sự hiểu biết nên đức Phật nói ngài có tuệ-nhãn. Nếu thái-tử Tất-đạt-đa cứ tiếp tục Cúng, Lạy, Cầu thì đạo Phật không có ra đời và chẵng một ai hiểu phật là gì cả, cho nên đã gọi là phật-tử thì phải hiểu Phật là gì ? giác là gì ? trước khi đốt nhang khấn vái. Nếu việc cầu xin được toại nguyện thì thế gian nầy không có cảnh khổ và đức Phật cũng không cần thuyết pháp độ sanh.

Đến đây đức Phật nói thêm về sắc thân cụ túc, Sắc tức chỉ cho Nhân tướng, Thân là bản thể bất sanh bất diệt, Cụ-túc chỉ cho phẩm đẹp oai nghi của một vị phật cũng là ý nghĩa nói về 32 tướng tốt. Đức Phật nói sắc thân cụ túc là nói với những ai đã liễu ngộ được pháp duyên sanh, không có cái gì tự nó sanh ra nó, không có vấn đề số 1 sanh ra số 2 mà số 2 có là do 1+1, chớ không có đấng nào sanh ra số 2, người hiểu được như thế là người thật sự thấy sắc thân cụ túc chớ thật ra chẵng có pháp chi gọi là liễu ngộ hay chứng đắc cả, bởi vì khi nói đến sắc thân tức là do duyên nương gá lại với nhau nên tướng không thật, lấy thí dụ cho dể hiểu : như một người sanh ra và lớn lên bình thường, khi phát hiện ra Bác sĩ cho biết là bị ung thư máu nếu không chửa trị sớm thì bệnh nhân chỉ sống trong một thời gian ngắn. Việc chửa trị là bằng cách thay máu từ từ, nghĩa là số lượng máu của bệnh nhân sẽ được thay thế bằng số máu của người khác đưa vào. Vậy bấy giờ thân của bệnh nhân là thật hay giả ? nếu chấp thật thì số máu khác đưa vào không công dụng, đúng không ? thế thì với cái thân ông A, máu của ông B, rồi mấy năm sau khi sắc thân nầy chết đi thì linh hồn đó của ông A hay ông B đi đàu thai ? giả sử người cho máu là ông B vẫn còn sống...
Một thí dụ thêm nửa về thực vật : hiện tượng ghép giống của nhiều loại cây ăn trái, người ta dùng nhánh của cây này ghép vào thân cây tương cận to lớn khác để cho ra trái nhiều và to, việc làm này thành công tuy nhiên hình tướng có thay đổi và mùi vị không còn thơm ngon đậm đà như trước nửa. Do vì có khác nên tạm gọi là không thật là trái bị lai vậy thôi...chớ có đấng nào sanh ra các hiện tượng nầy đâu.
Do vậy mà khi đức Phật hỏi ông Tu-bồ-đề, ông dứt khoát trả lời không thể nào từ một thân tướng giả lại có linh hồn thật để đi thọ sanh được. Sở dĩ đức Phật nói người có thân tướng đẹp là đối lại cái xấu để mọi người so sánh vậy thôi chứ các pháp xưa nay đều bình đẳng nên nói tướng đẹp là đẹp vậy thôi chẵng khoe khoang chi cả.
Lúc nãy đức Phật nói về thân tướng oai nghi của một vị Phật, người mà dựa vào tai dài tóc quăn răng trắng trên đầu có bứu tóc rồi cho đó là Phật thì không hề hiểu gì những lời phật nói ra...tiếp theo đức Phật đưa ra Tướng cụ-túc, tướng ở đây là ý chỉ cho đức tánh của vị Phật, trong kinh Kalama: do vì có vị Sa-môn này nói như thế này, lại có vị Sa-môn kia lại nói khác do đó mà thưa thỉnh lên đức Phật, ngài dạy : đừng tin những gì ghi lại trong kinh điển...đừng tin vị Sa-môn ấy có uy quyền có phẩm hạnh tốt...đừng tin và nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình...mà không rõ nguồn gốc. Cho nên năng kiến là cái thấy bằng trí tuệ của mình, sở kiến là đối tượng chỉ cho chân lý để tự mình tư duy nhận ra cái nào chánh, cái nào thiện thì giữ đó mà hành, cái nào tà, cái nào bất thiện thì thanh lọc nó ra, lọc sạch hết cả rồi thì gọi là tịnh, mà thanh tịnh là bản thể của mình và chỉ mình mình biết. Người đọc, nghe qua là biết thật giả liền nên tạm gọi là giác vậy thôi. Người hiểu được như thế gọi là thấy Nhưlai tức thấu triệt được chân lý, chứ Phật thì vô hình mình dùng cái gì để thấy cái vô hình ?

Monday, July 21, 2014

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BALA MẬT

CHƯƠNG 2      PHẦN NỘI DUNG    < o >


Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu, đầy cả cõi tam-thiên đại-thiên để dùng bố-thí. Do nhơn-duyên như thế, người ấy có được phước, có nhiều chăng?”
“Bạch đức Thế-Tôn! Đúng thế. Người đó, do nhân-duyên ấy, được phước rất nhiều.”
“Nầy Tu-Bồ-Đề! Nếu dùng phước-đức là có, hữu-vi, thì đức Như-Lai chẳng nói là được phước-đức nhiều. Do vì phước-đức là không, vô-vi, nên đức Như-Lai mới nói là được phước-đức nhiều.”

Nơi đây một lần nửa đức Phật nhắc đến việc bố thí tài, người đem 7 thứ báu vật đầy cả vũ trụ mà bố thí thì theo nhơn duyên như thế nương theo thế gian đức Thế-tôn nói người đó có phước đức nhiều vì phước đó là phước hữu-lậu không bền chắc. Vàng, bạc, mọi thứ vật chất đều là pháp hữu-vi có rồi mất không tồn tại được lâu dài, người bố thí như thế là người căn cơ qúa mỏng ham ưa pháp tiểu-thừa tin vào phước báo có thần thánh ban cho, nên việc bố thí nhiều như thế mà không học hiểu rõ đạo lý thì giống như người đi mua phước, một hình thức có tính cách trao đổi, bánh ít trao đi bánh qui nhận lại...vậy thôi. Vàng, bạc, chuổi ngọc...tất cả vật qúy giá đều là những vật làm cho thân bất tịnh, là giới cấm của người tu, nếu đem đến chùa chiền hay đền thờ để đổi lấy phước thì vô bổ vì tự mình đã sa vào đất cấm, nơi đó không có giữ người hay cất giấu vật bất chánh. Nếu chúng ta nhìn sâu vào tư duy thêm thì việc làm đó chẵng qua là đặt điều kiện cho một vấn đề, rồi khi điều kiện hai bên không cân bằng thì phải nhờ đến quan tòa dùng cân công lý để giải quyết...người có thất bảo nhiều như qủa địa cầu rồi đem ra làm việc bố thí thì xưa nay chưa có một ai..., đoạn này chúng ta phải là người quan sát khách quan như một vị thẩm-phán thì mới hiểu rõ ý nghĩa của người ghi lại kinh này. Trong kinh Pháp-hoa nơi phẩm Phổ-môn đức Phật có thuyết rằng : " nếu có những chúng sanh vì cầu thất bảo mà vào đại-hải để tìm, khi thuyền trôi vào xứ của qủi La-sát, nếu một người trong nhóm niệm bồ-tát Quán-thế-âm thì tất cả đều được thoát nạn..." Như mọi người đã hiểu thất-bảo gồm có : vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não...là những vật qúy hiếm của thế gian, chúng thuộc về hình sắc mà mọi hình sắc thì chỉ có ở cõi Sắc tức thế giới Ta-bà nầy, mà người bố thí bảy thứ báu vật đó đầy cả tam thiên đại thiên thì chỉ có Đấng hay Thượng-đế mới làm được nên đất trở thành qúy hiếm. Theo Thiên-chúa giáo Thiên-đàng là đất thánh của Chúa cai quản, đối với người ít hiểu biết sự nhận thức quá nhỏ hẹp nên gọi là Vườn-địa-đàng, rồi khi Adam phạm giới ăn trái Cấm thì Chúa đuổi ra khỏi nơi Vườn ấy...nói đuổi đi là điều răng dạy hù dọa trẻ thơ để sợ mà năng giữ giới, chớ địa đàng là bề mặt của qủa địa cầu thì nói đuổi đi là đuổi đi đâu ?  Đất theo kinh Adiđà là do bảy thứ báu vật tạo thành chỉ cho tâm-địa của mỗi chúng sanh, là nơi thanh tịnh an vui không có các điều khổ, nhưng người giàu có lại muốn giàu thêm do vậy mà chúng sanh phải lặng lội vào đại hải là nơi nguy hiểm để tìm...đến khi sa vào xứ qủi La-sát tức là có sự tranh chấp về đất đai nhà cửa chổ ở, việc nhỏ thì kiện tụng đâm chém nhau, việc lớn thì chiến tranh cướp bốc giết lẩn nhau tạo ra cảnh khổ của thế gian đâu đâu cũng có do nơi muốn làm chủ đất mà ra. Qủa địa cầu chính là qủa khổ bởi những đường kẻm gai ranh chia chi chít như số cát sông Hằng...nếu ai không tin chỉ cần dời đường ranh lấn sang bên cạnh chỉ một Tất thôi thì qủa khổ sẽ trả lời Có hay Không cho các bạn. Mà qủi La-sát đó là ai ? chính là lòng tham lam cực độ bên trong mình, khi cảnh khổ đến chổ tuyệt vọng tức qủi La-sát sắp bắt đi thì niệm bồ-tát Quán-thế-âm sẽ được cứu, nghĩa rằng : "niệm" tức là nhắc nhở mình hãy lắng nghe lời dạy của chư phật, thất bảo là qủa bồ-đề do bảy vật qúy hợp lại mà từ trước giờ không để ý quan tâm đó gọi là : thất bồ-đề phần gồm có : niệm - trạch pháp - tinh tấn - hỷ - khinh an - định - xả. Hiểu được mọi vật chất đến đều do duyên, mà duyên hợp thì có lúc sẽ tan...ngay nơi hơi thở của mình còn không giữ được lâu thì cái gì tồn tại mãi mãi ?
Cho nên người tu theo tiểu thừa tin rằng việc bố thí tài càng nhiều thì thần thánh sẽ ban phước nhiều, nhưng việc  làm như thế khiến cho những người giải đải đi trái đường tu do lòng tham muốn mà ra nên nơi gọi là "trang nghiêm phật độ " trở thành chổ kinh doanh tạp hóa to lớn không thể lường. Trong truyện Tây-du ngài Ngô-thừa-ân viết lên phẩm : nạn Hoàng-kim-phong nói lên với số vàng nhiều như số cát sông Hằng thổi đến sẽ làm mù mắt bất cứ ai dù là người có đầy đủ trí tuệ sáng suốt như Tôn-ngộ-không. Những người bố thí tài nhiều, việc nầy họ cho là Nhân tưởng rằng sau khi chết nhờ công đức đó được sanh trên thất bảo của cõi Phật Adiđà hưởng phú qúy giàu sang đó là Qủa...nhưng trong lý nhân-qủa không có vấn đề mua bán hay trao đổi, nơi đó cũng không có người thọ nhận. Nơi thời mạt thế là đạo giáo tiểu thừa họ tin vào tha lực hay đấng cứu rổi hơn là tự lực nơi chính mình, giáo lý dạy tu phước đối với những người ấy  "không thấy mà tin" đó là đức tin chấp Có nên đức Nhưlai hỏi ý ông Tu-bồ-đề như thế nào ?  thì được trả lời là : "được rất nhiều"  rồi đức Phật giải thích, nếu việc làm bố thí đó mà nghĩ rằng "phước đức là có, thì đức Nhưlai chẵng nói là được phước đức nhiều..." bởi vì phước đức không thể mua hay trao đổi, do vậy đức Phật muốn xác nhận một lần nửa là thượng-đế không có, giả sử như Có thì người nhận tiền đó làm chi để mang tội hối lộ.?
Nơi cõi Cực-lạc của Phật Adiđà, đất nơi đó cũng do bảy thứ báu nầy tạo thành thì đất đó do ai tạo nên ?  thế thì :
Cõi Cực-lạc và cõi Ta-bà nầy là một hay là hai ?
Đức Nhưlai nói : tùy kỳ tâm tịnh tắc phật độ tịnh, dục tịnh phật độ tiên tịnh kỳ tâm.
Khi tâm mình tịnh tắc ba nghiệp thân khẩu ý đều không lổi thì nơi đó chính là cõi cực-lạc, mà Adiđà nghĩa là vô lượng quang là ánh sáng trí tuệ có sẵn trong tự tánh của mỗi người, lúc đó gọi mình là Phật hay Adiđà cũng cùng một nghĩa. Bởi vì Giác là vô vi pháp là Không Pháp, người hiểu như thế hành như thế là người thấy được phật pháp sống trong chánh pháp người ấy có an lạc nên tạm gọi là có phật-nhãn vậy thôi, nên " đức Nhưlai mới nói là được phước đức nhiều ".